Hầu hết đàn ông bình thường tử tế, khi đến một đẵn tuổi trưởng thành nào đó, thì đành chiều theo thói tục mà có hôn nhân. Với nhiều đàn ông lương thiện, hôn nhân là một loại hình sống khá rủi ro, thậm chí đôi khi còn cực kỳ bất hạnh. Thế nhưng, cho dù tệ hại, hôn nhân vẫn may mắn tạo ra được những thiên thần đích thực, đấy là bọn trẻ. Có thể nói, đây là một tuyệt vời phẩm chất, duy nhất đáng kể ở hôn nhân.

NVHa

Với tất cả các ông bố ở thành phố lớn, dù ngu dốt hay uyên bác, thì không gì hạnh phúc bằng những lúc được đùa chơi với bọn trẻ đang lít nhít của mình. Sau những buổi làm việc nhọc nhằn mưu sinh, hoặc quần quật máy lạnh công sở hoặc hùng hục buôn bán vỉa hè, đám đàn ông có con thường “refresh” tái tạo công lực bằng cách thanh thản lê la cùng bọn nhóc. Sao mà chúng non nớt ngây thơ đáng yêu đến thế. Chính vì vậy mà bọn họ không thể không lo lắng khi nhìn bọn trẻ loay hoay tìm cách lớn. Cuộc đời bên ngoài đã qua thời lành, càng lúc càng bất trắc. Tuy nhiên, không thể giữ mãi bọn trẻ con ở trong nhà.

Bước đầu tiên khi đi ra khỏi nhà của bọn trẻ thường là bước chân tới trường học. Theo nguyên tắc kinh điển phương Đông, ở buổi tựu trường đầu tiên đó, người cha bắt buộc phải dẫn. “Cốc Lương truyện” từ thời Hán bên Tàu chép. “Từ một đến tám tuổi mà con bị họa nước lửa thì đó là lỗi tại người mẹ. Từ tám đến mười sáu tuổi mà con không biết chữ thì đó là lỗi tại người bố. Còn từ mười sáu tuổi đến hai tư học chữ mà không giỏi thì đó là lỗi tại mình”. Hồi xa xưa, khi học phong còn trong trắng, tuyệt đối chỉ có bọn con trai mới được tới trường. Chẳng có cái thứ trường nào lúc đó lại có phòng vệ sinh nữ. Theo quan niệm giáo dục hồi ấy, con gái biết chữ cũng chẳng để làm gì. Thậm chí, càng dễ hư hỏng. Những thiếu nữ biết đọc sách đa phần đều là đám tiểu thư khuê các. Bọn họ hóng hớt chữ từ mấy tủ sách đồ sộ của gia đình, hoặc từ đám gia sư được ông bố quyền quý nuôi ăn ở trong nhà. Nếu muốn học cao nữa thì đành giả trai như bi kịch của cô bé Chúc Anh Đài. Tất nhiên, con gái biết chữ cũng không hẳn là tai họa. Hoặc có thể lăng nhăng vô hại làm thơ như trường hợp của Lâm Đại Ngọc. Hoặc có thể ghi sổ tính toán tiền công cho bọn người ở như trường hợp Vương Hy Phượng mà kiệt tác “Hồng Lâu mộng” từng mô tả. Còn nói chung là bất hạnh, ví như Vương Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du chẳng hạn. Nàng Kiều văn hay chữ tốt thì ngoài việc lành mạnh biên được vài thư tình gửi bạn giai. Còn đâu cũng chỉ toàn nức nở, ngồi viết bản kiểm điểm nộp cho má mì “Thân lươn bao quản lấm đầu. Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”.

Khi dắt con giai ra mắt thầy, các ông bố thường chân thành trình một lễ. Thỏi mực cuốn vở là hiển nhiên. Nhà dư dật là ít bạc vụn phong chè, nhà tùng tiệm là đôi gà sống kèm đấu gạo ngon. Tới cửa nhà thầy, người cha khúm núm vái, lễ phép trình bầy xin con được học chữ. Thầy hiền lành cười. “Có chữ học làm kẻ sĩ, có chữ học làm tiến sĩ. Nhà bác thích cháu học làm loại nào”. Người cha rưng rưng. “Thôi thì trăm sự nhờ thầy”. Lễ nghi nhập học đại loại đơn sơ chân thành như vậy. Cứ đọc tiểu thuyết của hai nhà Nho người Việt là Chu Thiên và Ngô Tất Tố là biết. Khác hẳn hôm nay, phụ huynh ra mắt thầy thường là sồn sồn mấy bà mẹ. Chẳng cứ chạy trường chạy lớp, ngay cả thiêng liêng những ngày 20/11 Hiến Chương nhà giáo, tất tật đều dúi cho thầy cả đống phong bì. Gần giống như một thứ tiền để chuộc con tin. Nhiều thầy làm vẻ mô phạm cao đạo không cầm, sâu xa hình như muốn mặc cả. Chao ôi, lễ vật đã dung tục thì bút nghiên lấy đâu ra thanh tao. Thầy đã chẳng ra thầy thì trách sao học trò toàn giở trò khỉ.

Chính vì thế mà bây giờ đàn ông sợ nhất là đi họp phụ huynh. Thường bọn họ hay đùn đẩy việc ấy cho vợ hoặc cho ông cho bà. Có “bố” liều lĩnh tới mức đùn đẩy cả cho “ôsin”. Cực chẳng đã không trốn được thì miễn cưỡng đành đi. Học giỏi có cái khổ của học giỏi, học kém có cái khổ của học kém. Nhưng kinh hoàng nhất là đứa con đang học trung học, kiểu như các lớp cuối cấp chẳng hạn. Thi cử tuy càng ngày càng vớ vẩn, nhưng bố ai dám nói không với thành tích. Huống nữa con mình nghênh ngang cá tính, đúng là loại đầu bò đầu biếu. Hôm họp tổng kết học kỳ, vừa tới cổng trường thì bỗng giật bắn mình vì quên giấy mời. Đành rằng là con nó học lớp 11, nhưng 11A hay B hay C thì chịu. Sau một hồi gọi đi gọi lại về nhà thì cũng tìm được phòng, chậm chừng hai chục phút. Cô chủ nhiệm nói giọng vùng chiêm trũng, “lờ nờ lẫn nộn”, trừng mắt nghiêm khắc nhìn. Sợ quá, riu ríu xuống bàn cuối lớp tìm chỗ khuất ngồi. Ở đấy đã hết chỗ, bởi xúm xít một đống ông bố đang dúm dó, chắc cũng đi họp lần đầu. “Xin mời cái bác vừa đến lên ngồi trên này”. Giọng the thé của bà trưởng ban phụ huynh. Tí nữa đợi cô giáo nói xong, bà đó sẽ tiếp lời nói dài nói dại chừng vài tiếng. Thôi thế là tàn đời. Lù lù một mình ngồi đối diện bàn cô chủ nhiệm, làm sao có thể giả vờ đi đái mà trốn về sớm được.

Đoản thiên tiểu thuyết “Liêu trai chí dị” kể một chuyện. Có hai ông bà, sống ngay ngắn đạo đức lắm, mãi không có con. Hai cụ vật vã cầu nguyện Đức Phật, xin bố thí cho một mụn. Thương tình Người hiện lên hỏi “Thế các ngươi có nợ nần gì ai không”. Vừa khóc vừa thưa “Chúng con ngay thẳng làm ăn, cho đến bây giờ cũng chưa từng nợ nần bất cứ một ai”. Đức Phật từ bi cười bảo “Nếu không có nợ thì làm sao có thể có con”.

Lạy Đấng đại Trí đại Giác, sao Người bảo ban chúng con chính xác đến vậy. Có điều xin bạch cùng Người, cái cục nợ ấy càng ngày càng dài càng to. Liệu có phải là do chương trình dạy học của Bộ Giáo Dục.

NGUYỄN VIỆT HÀ

TTVH & ĐÀN ÔNG 7/2014

Related Posts

Anal