Trước khi đến New Orleans, tôi đã kịp có những trải nghiệm tuyệt vời ở San Francisco và New York, hai thành phố sôi động theo hai phong cách hoàn toàn khác nhau ở bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ. Có lẽ nhờ vậy mà tôi rất đồng cảm với câu nói nổi tiếng của Tennessee Williams, nhà viết kịch xuất sắc của nước Mỹ và cũng là một người con của New Orleans: “Nước Mỹ chỉ có 3 thành phố: New York, San Francisco và New Orleans. Những nơi khác không có gì đáng nói…”. Tất nhiên tôi biết, câu trích dẫn này có thể chỉ đúng trong một ngữ cảnh nào đó, hoặc bị cực đoan hóa theo ý của tác giả…

13-jpg

Phải trải qua 2 chặng bay từ New York, tôi mới đến được New Orleans, thành phố nhỏ mang đậm dấu ấn đặc trưng của miền Nam nước Mỹ, từ cái âm điệu nặng hơn, phong cách sống giản dị mà phóng khoáng hơn. Nhưng New Orleans (người bản địa gọi New Orleans là NOLA – viết tắt từ thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana) không chỉ đặc trưng cho phong cách sống miền Nam nước Mỹ, nó còn pha trộn nhiều màu sắc văn hóa, kiến trúc, ẩm thực khác, từ dấu ấn thuộc địa của Pháp và Tây Ban Nha, dấu ấn của người da đỏ xưa, dấu ấn của người da màu ở châu Phi và cả vùng biển Carribbean nắng gió. Trải qua gần 300 năm lịch sử tồn tại và gắn bó với người bản địa, tất cả những dấu ấn đó vừa đứng riêng độc lập vừa hòa trộn vào nhau, tạo thành một New Orleans đậm phong vị chất riêng không trộn lẫn với bất kỳ nơi đâu và chinh phục tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên, như Florence, Venice của nước Ý, Tokyo và Kyoto của nước Nhật hay Jasailmer của Ấn Độ… 

FRENCH QUARTER – LINH HỒN CỦA NEW ORLEANS

New_Orleans_French_Quarter_1_by_serpentesse

Những khu phố chính của khu French Quarter, nơi có những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi đầy màu sắc.

Gần 300 năm trước, vào năm 1718, người Pháp chiếm Louisiana ngay tại hạ lưu của con sông Mississippi và xây dựng nên thành phố New Orleans. Sau đó người Pháp bán New Orleans lại cho Tây Ban Nha rồi lại mua lại trước khi bàn giao cho người Mỹ vào năm 1803 trong một cuộc thương thảo kéo dài giữa Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Thomas Jefferson và Napoleon Bonaparte của Pháp. Có lẽ vì thế mà New Orleans pha trộn rất nhiều phong cách kiến trúc và văn hóa, nhưng riêng khu phố trung tâm French Quarter thì mang dấu ấn của Pháp rõ nhất. Nhờ có địa thế đặc biệt và xây cao hơn mặt nước sông Mississippi nên trận bão Katrina khủng khiếp năm 2005 không gây tác hại nhiều đến New Orleans, mặc dù tàn phá tiểu bang Louisiana rất mạnh.

2014-01-16-06-04-51_neworleansbourbonstreet

Một người bạn Mỹ đặt giúp tôi một căn phòng tuyệt đẹp trong một ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp (ở đây họ gọi là “House” chứ không phải “Hotel”) nằm trên phố Chartres, ngay trung tâm French Quarter. Khu phố cổ kiểu Pháp này thực ra không lớn nhưng là linh hồn của New Orleans. Những con phố ngang dọc hình bàn cờ rất dễ nhớ, hai bên là những ngôi nhà cổ 2 tầng màu sắc sặc sỡ và đẹp mắt. Hầu hết những ngôi nhà cổ cả trăm năm tuổi này được trưng dụng thành nơi kinh doanh, từ những cửa hàng bán đồ lưu niệm, những nhà hàng ẩm thực đặc sắc và đặc biệt là những quán bar, câu lạc bộ nhạc jazz nhan nhản…

C360_2014-02-07-05-12-03-310

 

C360_2014-02-07-06-14-28-582

Những bức tượng các nghệ sĩ chơi nhạc jazz là món quà lưu niệm đặc trưng ở New Orleans

Ban ngày, New Orleans trông có vẻ hiền lành và yên tĩnh ẩn mình dưới cái vẻ cổ kính của nó (mà khi đêm xuống tôi mới biết mình lầm to!). 10h sáng ra khỏi nhà, những con phố thưa vắng người đi lại. Khách du lịch dường như vẫn còn chưa tỉnh giấc sau những chầu túy lúy đêm hôm trước. Đây là thời điểm tuyệt vời nhất để dạo bộ dọc theo khu phố cổ, từ con phố Chartres dẫn đến quảng trường Jackson, nơi có nhà thờ chính St.Louis phong cách châu Âu và là điểm nổi tiếng nhất ở “khu phố Pháp”. Từ đó đi bộ ra con phố Decatur ngay gần cửa sông để thưởng thức bữa sáng ở quán Café du Monde có hơn 150 tuổi. Hầu như khách du lịch nào đến New Orleans cũng ra đây để thưởng thức một ly café sữa kiểu Pháp và ăn những chiếc bánh beignet tẩm bột. Tôi phải đứng chờ hơn 30 phút, xếp hàng dài sau một nhóm khách để gọi cà phê và bánh beignet rồi quay trở lại quảng trường Jackson, chọn một chiếc ghế trống vừa ăn sáng vừa xem một ban nhạc Jazz gồm 4 thành viên da màu đang trình diễn. Lối trình diễn vừa phóng túng vừa sôi động của họ bắt đầu lôi kéo du khách và rất nhiều người vào xin chụp hình lưu niệm rồi bỏ những đồng xu vào chiếc hộp đặt bên cạnh. Những ban nhạc trình diễn jazz trên đường phố như thế khá nhiều trên những đường phố của French Quarter. Quảng trường Jackson còn là nơi tập họp của những người bán hàng rong, ảo thuật gia đường phố, những thầy đoán tướng số và cả những người bói bài tarot… Xung quanh đó là những shop đồ lưu niệm bán những cuốn truyện ma, những món đồ lưu niệm có hình thù quỷ dữ. Người dân ở đây có vẻ tin vào ma quỷ, thuật thôi miên, những câu chuyện tâm linh và biến chúng thành một “đặc sản du lịch”.

dsc_3500

Café de Mondé và bánh beignet, hai món đặc sản mà hầu như du khách nào đến New Orleans cũng phải thưởng thức. 

Nếu như những câu chuyện tâm linh phụ thuộc vào niềm tin của du khách thì những câu chuyện về di sản ở New Orleans xứng đáng để chúng ta khám phá. Trước khi đến New Orleans, hầu như tôi không có một khái niệm gì cụ thể về thành phố miền Nam nước Mỹ này. Những gì tôi được nghe nói đến New Orleans là quê hương của những bản nhạc jazz, nơi sinh của huyền thoại nước Mỹ Louis Armstrong hay nhà viết kịch vĩ đại Tennesse Williams, tác giả của nhiều vở kịch và bộ phim nổi tiếng. Trong bộ phim đoạt nhiều giải Oscar dựa theo vở kịch cùng tên của Tennesse Willams là “A Streetcar Named Desire” có bối cảnh chính ở New Orleans, tôi nhớ cái không khí nóng bức ngột ngạt những ngày hè của vùng đất nghèo khó và những chuyến xe điện cổ chậm chạp, nơi nhân vật chính, Blanche DuBois (Vivien Leigh đóng) thất cơ lỡ vận phải về sống nhờ nhà vợ chồng cô em gái và kết thúc cuộc đời trong những ngày tháng bi thảm ở đây…

C360_2014-02-08-05-56-30-078

“Stella!”, câu thoại nổi tiếng trong bộ phim “A Streetcar Named Desire” được sử dụng làm thương hiệu cho một quán bar. 

New Orleans trong sáng tác của Tennesse Williams có vẻ là vùng đất của những khát vọng không thành, của những nhục cảm tội lỗi nhấn chìm những nạn nhân của nó. Ngôi nhà Avart-Peretti, nơi Tennesse Williams dành 2 năm (1946-1947) để viết vở kịch kinh điển này nằm ngay trung tâm của khu French Quarter và được xem là một điểm đến không thể thiếu cho du khách khi khám phá New Orleans. Ngay cả câu thoại cuối phim “Stella! Hey, Stella” (được Viện phim Mỹ bình chọn là 1 trong 100 câu thoại nổi tiếng nhất của điện ảnh Mỹ) mà nhân vật của Marlon Brando gọi thất thanh khi người vợ bỏ đi cũng được xem là một “di sản” khi nói về New Orleans. Thậm chí, tôi còn nhìn thấy một quán bar sử dụng câu thoại này làm tên riêng trên đường phố Chartres.

C360_2014-02-08-03-55-16-193

 

Canal-Streetcar-in-New-Orleans

Những chuyến xe điện (streetcar) cũng là một biểu tượng du lịch của New Orleans. Con phố chính Canal, nằm ngoài khu French Quarter là nơi có những chuyến xe điện tấp nập nhất, chở du khách và những người dân địa phương đến các điểm du lịch khác của New Orleans, như đi ra khu ngoại ô của quận Garden & Uptown. Chỉ mất 3 đô, bạn có thể mua vé ngày và ngồi trên những chiếc xe điện cổ lâu đời nhất thế giới để thăm thú những địa danh khác của thành phố đáng yêu này…

 

KHÔNG (MUỐN) NGỦ Ở NEW ORLEANS

Trừ những ngày lễ hội hay cuối tuần, ban ngày ở New Orleans khá yên tĩnh và hiền lành, không có cái vẻ đông đúc và xô bồ như nhiều thành phố du lịch khác. Nhưng khi chiều xuống, khi ánh mặt trời chưa tắt hẳn, khu phố French Quarter sôi động hẳn lên và biến thành một quán bar khổng lồ cho du khách.

C360_2014-02-07-05-48-41-135

Từ 5h chiều, tiếng nhạc jazz đã vang lên rộn rã ở những jazz club dày đặc trên các đường phố. Tôi không biết lễ hội Mardi Gras vào tháng 2 hay lễ hội Jazz hàng năm sôi động đến mức nào, nhưng buổi tối ra khỏi khách sạn đã thấy mình bước vào một lễ hội đường phố rộn rã. Dọc theo 3 con phố sôi động nhất là Bourbon, Decatur hay Frenchman có hàng chục bar nhạc jazz chơi nhạc sống để phục vụ du khách và những người đam mê nhạc jazz. Những con phố hiền lành ban ngày thoáng chốc như nàng Lọ Lem đổi xiêm y để dự tiệc ban đêm. Trong những ánh đèn mờ ảo, tiếng nhạc mời gọi và quyến rũ, bia và rượu vang chảy như suối. Giữ được mình trong không khí mời gọi này quả là điều khó khăn!

Tại thành phố được xem là nơi khai sinh của nhạc Jazz này, âm nhạc vang lên rộn rã từ những đường phố bước vào các câu lạc bộ ban đêm và bất cứ ngày nào trong tuần. Họ chơi từ nhạc jazz truyền thống đến những dòng nhạc jazz pha trộn với blues hay nhạc soul của người da đen. Tôi đang đắm chìm trong một buổi diễn sống động ở House of Blues nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập của họ thì người bạn đã nhắn tin gọi đến một câu lạc bộ nhạc jazz khác có tên “The Spotted Cat” trên đường phố Frenchman. Thưởng thức xong 2 tiếng nhạc sống tuyệt vời ở The Spotted Cat, thì nhóm bạn bản địa lại kéo tôi sang một câu lạc bộ khác trên đường Bourbon. Một đêm thưởng thức 3, 4 câu lạc bộ Jazz khác nhau và đều tuyệt vời như nhau, dường như tôi quên mất khái niệm thời gian. Xung quanh tôi, những du khách khác cũng tận hưởng cái không khí đầy hưởng thụ đó. Có lẽ vì thế mà người ta gọi New Orleans là “Big Easy”, người ta cũng gọi New Orleans là “thành phố của tội lỗi và nhục cảm”.

C360_2014-02-08-04-07-25-408

Xe ngựa chở du khách đi thăm những khu phố cổ. 

Trong 4 ngày ở New Orleans, nếu như ban ngày tôi thường ngủ dậy muộn và lang thang từng ngóc ngách của khu phố Pháp hoặc bắt xe điện đi ra các quận ngoại ô thì khi đêm xuống, tôi theo chân những người bạn bản địa lê la từ jazz club này đến jazz bar khác. Thứ âm nhạc mời gọi và quyến rũ này dường như khiến tôi không muốn ngủ và muốn tận hưởng những phút giây với nó…

Và giờ đây, khi đã rời xa New Orleans, mỗi khi nhớ về thành phố này, tôi thường mở bản nhạc “Do You Know What It Means To Miss New Orleans” của Louis Armstrong để nghe giọng hát trầm khàn và da diết của ông và đồng cảm với từng ca từ một, “Man, do you know what it means to miss New Orleans/ And miss it each night and day/ I know I’m not wrong, this feeling’s gettin’ stronger…”

Text & Photo: LÂM LÊ

TTVH & ĐÀN ÔNG 7/2014

Related Posts

Anal