Lấy bối cảnh thời bao cấp và một tựa đề vô cùng dung dị “Chuyện ngõ nghèo” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam liên kết phát hành) rất dễ bị đánh đồng với những câu chuyện buồn buồn đậm đặc niềm hoài cổ của những tác phẩm cùng đề tài về “một thời tem phiếu”. Thế nhưng đây là tác phẩm tâm huyết của nhà văn lão thành Nguyễn Xuân Khánh đã có hơn 30 năm tuổi đời và cả chục năm trôi nổi trên các trang mạng trước khi đường đường chính chính đến tay bạn đọc hôm nay.

Trong giới văn chương, Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng lạ. Ông đỗ tú tài Toán, học Đại học Y Hà Nội trước khi vào quân đội năm 1952. Cơ duyên đưa đẩy ông lại làm báo rồi viết văn, dịch thuật mà con đường chữ nghĩa quả là trầy trật. Có những tác phẩm viết rồi không được in, phải in dưới bút danh khác hoặc bị phê phán kịch liệt về nhận thức. Cũng vì chuyện nhận thức, từ năm 1969, ông gần như “im hơi lặng tiếng” trên văn đàn. Để rồi khi bước vào tuổi “cổ lai hy”, từ năm 2000 đến nay, cái tên Nguyễn Xuân Khánh bỗng trở lại và tỏa sáng rực rỡ với “Hồ Quý Ly” (2000), “Mẫu thượng ngàn” (2005) và “Đội gạo lên chùa” (2011). Nguyễn Xuân Khánh bỗng trở thành “bậc thầy tiểu thuyết”, là nhà văn ăn khách với những tác phẩm “dày như cục gạch” (luôn trên 800 trang), “càn quét” khắp các giải thưởng văn chương, và liên tục được tái bản.

“Chuyện ngõ nghèo” là chuyện của Hà Nội những năm tháng khốn khó mà nhà nhà, người người phải nuôi lợn làm kế mưu sinh. Những tiếng ụt ịt vang lên ở dưới gầm cầu thang, trong góc bếp, trong nhà tắm, trên tầng hai những căn hộ tập thể hai mươi mét vuông như ám lấy Thủ đô. Dĩ nhiên, nhà văn cũng từng nuôi lợn và nhiều người vẫn xem đây gần như là tự truyện của tác giả với nhân vật trung tâm là “ông Nguyễn Hoàng làm nghề viết báo kiêm nghề nuôi lợn”. Khi cả Hà Nội “lên cơn mê lợn” – không chỉ người nghèo nuôi lợn mà Bí thư nhà máy gạch N, Thứ trưởng Bộ X, Thành ủy viên T, ngài Chủ tịch K… cũng say mê với “khúc nhạc eng éc, rền rĩ, rùng rợn, nhưng vui tai đối với người Hà Nội” – thì Hoàng được xếp vào bậc “trư cuồng” như lời tự nhận của nhân vật: “Có thể nói không gian, thời gian của tôi đang bão hòa chất lợn”.

“Chuyện ngõ nghèo” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam liên kết phát hành)

Cùng với Hoàng là những “anh hùng nuôi lợn” mà mỗi người một vẻ tạo nên bức tranh giễu nhại lớn về thời đại. Đó là anh thương binh Lân với căn lều “sặc sụa mùi lợn” và trình nuôi lợn đạt đến tầm “nghệ sĩ”, chuyên đặt cho lợn nuôi những cái tên “sặc mùi thuốc súng”: Tên Lửa, Thần Sấm, Xung Kích, Lính Thủy Đánh Bộ… Đó là Tám, một giáo viên cấp ba dạy sinh vật ấp ủ đề tài nghiên cứu cao học là cuốn “Bách khoa toàn thư về lợn”. Tám đã đưa ra những khái niệm mới như Bái Trư giáo, Trư luận, Trư học… và những kiến văn đậm tính triết lý về: “đồ tể”, “người lợn và lợn người”, cả việc đặt lại nguồn gốc loài người “có thể là khỉ nhưng cũng có thể là lợn”…

Hoàng, Lân, Tám – 3 con người say mê lợn, quan sát, nghiên cứu về lợn để rồi rút ra kết luận rợn người: lợn có tính người và người cũng có tính lợn. Những cật vấn về “chất lợn” trong bản tính con người đâu phải là vô lý trong một xã hội “tranh ăn”. Con người sẵn sàng cắn xé nhau vì miếng ăn, truy cùng đuổi tận nhau trong “men say quyền lực”, sẵn sàng thỏa hiệp và ù lì đi để đạt được quyền lợi. Hoàn cảnh đưa đẩy hay đấy chính là bản chất con người chỉ chờ dịp bộc lộ qua hoàn cảnh – lời biện hộ nào ở đây?

Chuyến du hành xuyên thời gian, chu du các cõi để đến được “Cực Thiên thai”, một xã hội ưu việt mà loài người hướng đến, trong cơn mê sảng của Hoàng mang tầm triết lý sâu sắc. Cực Thiên thai, nơi của cải ê hề cung cấp đồng đều cho mọi người, nơi sản sinh ra những con người hoàn hảo theo nhu cầu xã hội nhờ thuật toán máy tính và tổng hợp các gen ưu việt, nơi chỉ có tiếng cười nhờ “thuốc làm teo tuyến lệ”, nơi chỉ có sự đồng thuận khi cá tính bị triệt tiêu… liệu có phải là thiên đường? Và con người sẽ ra sao nếu không còn biết khóc, không còn biết rung cảm trước cái đẹp hay sự bất công? Đó có khác gì là “một chuồng lợn rộng lớn” với con người là “đàn lợn nuôi”? Đáng sợ hơn, trong cơn mơ, người đứng đầu Cực Thiên thai đó lại chính là phiên bản tiến hóa của con lợn bò mà Hoàng hằng chăm bẵm. Lợn biến thành người hay người hóa lợn – câu hỏi lớn mà tác giả đau đáu đặt ra cho chính mình, cho người Hà Nội của một thời xa vắng, hay cho cả loài người khiến “Chuyện ngõ nghèo” vượt lên trên những tủn mủn của một thời quá khứ túng quẫn mà mang tầm khái quát về bản chất và sự tha hóa của con người.

Vì thế, dù đã ra đời từ 34 năm về trước trong một bối cảnh hoàn toàn khác nhưng đến hôm nay “Chuyện ngõ nghèo” vẫn rất “thời sự” và sẽ vẫn còn “thời sự” khi “chất lợn” vẫn còn nguy cơ lây lan, ô nhiễm trong xã hội loài người chúng ta!

Bài: ĐÔNG A
TTVH & ĐÀN ÔNG (134)

Related Posts